Tiếng Việt

Hotline: 0942416933
Thận trọng với Vitamin
Nhiều nghiên cứu khoa học thống nhất khẳng định, việc bổ sung cho trẻ ...
“Vàng của người inca” quả lêkima
Inca là một tộc người da đỏ tại miền Nam châu Mỹ. Từ thế kỷ 13 đến thế...
Thầu dầu cây thuốc, cây độc
Ở nước ta, dọc ven đường vùng núi, trung du và cả đồng bằng (ở các bãi...
Dược liệu chống viêm
Đau, nóng, đỏ và sưng là những biểu hiện điển hình của quá trình viêm....
Cây Chòi Mòi
Cây Chòi mòi còn gọi Chua mòi, Chòp mòi, Chùm mòi, Chu mòi, Chồi mòi,...
Cây Thạch Tùng Răng & bệnh Alzheimer.
Trong TSKsố 146 chúng tôi có đề cập đến cây Thạch tùng răng trong điều...
Cốc nha, mạch nha vị thuốc tốt cho người bệnh gan
Mạch nha được chế từ mầm của quả chín già cây đại mạch, hay lúa ( mạch...
Phản ứng có hại của thuốc
Phản ứng có hại của thuốc
Rắn trong y học
Có lẽ, hầu như ai cũng đều quá quen thuộc với hình tượng một con rắn q...
Xem thêm

Bệnh Alzheimer những thông tin về dược phẩm mới và hướng nghiên cứu hiện nay

Cập nhật: 11/07/2017
Lượt xem: 38
Bệnh não suy Alzheimer thể hiện qua mất trí nhớ, lãng trí không hồi phục, giảm dần các chức năng trí tuệ, như nói năng lộn xộn, không còn nhận dạng được vật thường dùng hay người thân sống chung một nhà, thấy con cháu cũng dửng dưng, không phản ứng, không nhận ra nhà của mình,... Ngày nay, con người đã hiểu được phần nào các rối loạn chức năng đặc thù của bệnh, ở mức tế bào cũng như ở các phân tử.

Trong các rối loạn, phải kể: Sự phát triển không bình thường ở não: các mảng bêta amyloid. Các mảng này là do sự kết tụ của peptid Aβ beta amyloid bắt nguồn từ phân tử protein APP (amyloid protein precursor) có kích thước rất lớn. Peptid Aβ tích tụ ở giữa các tế bào thần kinh trong vùng vỏ não. Ngoài ra, peptid Aβ còn bị các tua thần kinh suy thoái bao quanh; tất cả cấu  thành các mảng thoái hóa lão suy.

CÔNG HIỆU DƯỢC PHẨM RẤT HẠN CHẾ 

Các phương thức điều trị bệnh Alzheimer hiện có chỉ cải thiện tình trạng của bệnh nhân trong những năm đầu bệnh mới phát, nhưng không có khả năng chặn đứng sự phát triển các tổn thương ở não.
 
Bệnh Alzheimer những thông tin về dược phẩm mới và hướng nghiên cứu hiện nay

Từ 15 năm nay, để cải thiện cuộc sống của bệnh nhân Alzheimer, các nhà sản xuất dược đã tìm được các dược phẩm giảm thiểu sự mất trí nhớ. Người ta tập trung vào việc điều trị triệu chứng theo 3 hướng nghiên cứu sau đây:

1.Dược phẩm gia tăng sự sản xuất acetylcholin bằng cách cho bệnh nhân sử dụng một tiền chất tự nhiên của acetylcholin như cholin.

2.Dược phẩm ức chế sự giảm dần acetylcholin ở điểm tiếp xúc các khớp thần kinh. Muốn vậy, phải ức chế enzym acetylcholin esteraz.

3.Cung cấp cho bệnh nhân các phân tử “lừa” để chúng kết hợp với các thụ thể acutylcholin, trên neuron (tế bào thần kinh) đích, để “nhại” tác động.

Các dược phẩm hướng 1 và 3 còn đang được nghiên cứu. Chỉ có dược phẩm hướng 2 là đã có mặt ở thị trường, và đã đem kết quả đáng kể. Các dược phẩm này có tác dụng là ức chế acetylcholỉn esteraz.       
Tacrine là dược phẩm đầu tiên do Công ty Parke Davis sản xuất. Tacrine có công hiệu đối với 1/3 bệnh nhân khi bệnh mới phát, nhất là khi bệnh được phát hiện sớm và 1 chỉ trong vài năm đầu. Tuy nhiên, Tacrine có những tác dụng phụ đáng kể, đặc biệt độc hại cho gan và ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa.
Donepezil (tên thương mại Aricept) là dược phẩm ức chế acetylcholin esteraz, được sử dụng  2 năm nay. Thuốc có công hiệu làm chậm sự tiến triển của bệnh. Chỉ cần uống 1 lần/ngày, rất thuận lợi đối với bệnh nhân sa sút về tâm thần.

Exelon, chất ức chế cholinesteraz, cũng mới được đưa ra thị trường. Phân tử Rivastigmine công hiệu tương đương với  Donepezil và Tacrine, không độc hại cho gan, nhưng phải uống 2 lần/ngày.
Cuối năm 1980, nhiều nhóm nghiên cứu cho biết bệnh Alzheimer còn làm tổn thương nhiều týp neu-ron khác trong vỏ não.

Nhiều neuron sản xuất dopamin, serotonin và Somatostatin cũng bị tổn thương. Nhưng cho đến nay, chưa có biện pháp bù trừ các chất trung gian thần kinh này.

HƯỚNG NGHIÊN CỨU HIÊN NAY

Từ hơn 12 năm nay, đã có nhiều nghiên cứu nhằm giảm hoạt động các khớp thần kinh ức chế thay vì tăng cường hoạt động các khớp thần kinh kích thích não, để tăng lượng các chất kích thích trung gian thần kinh (acetyicholin, serotonin, dopamin...).

Nhưng các dược phẩm thử  nghiệm tỏ ra độc hại cho não, ở liều lượng cao.

Tấn công thẳng vào nguyên nhân gây bệnh. Mục đích là ngăn cản, ức chế phần nào sự suy thoái các neuron. Do đó, cần xác định cơ  chế phân tử và hóa sinh gây suy thoái neuron.

Để ngăn chặn kết tụ các peptid bêta amyloid thành các mảng trong não của bệnh nhân, các chất chống viêm không steroid (AINS) có thể kìm hãm sự chuyển hóa APP. Qua nghiên cứu, người ta thấy phản ứng viêm tạo các enzym gia tăng sự tổng hợp protein APP. Khi bệnh nhân Alzheimer dùng các chất chống viêm AINS, sự tổng hợp APP không gia tăng. Kinh nghiệm cho thấy những người cao tuổi bị thấp khớp, được điều trị bằng các chất chống viêm AINS, ít bị bệnh Alzheimer, so với những người cùng tuổi không bị thấp khớp.

Tuy nhiên, do tác dụng phụ của AINS (gây xuất huyết tiêu hóa, loét dạ dày) nên khó sử dụng các loại thuốc này mỗi ngày để phòng chống

Chất chống viêm Indomethac cũng được nghiên cứu để điều trị bệnh Alzheimer.

Để tránh sự hình thành các mảng thoái hóa lão suy, người ta nghĩ đến việc đổi hướng chuyển hóa của protein APP thành dạng peptid không độc hại, thay vì dạng bêta amyloid.

Estrogen và các chất tương tự đã được dùng để thử nghiệm.

Estrogen tỏ ra có công hiệu để cải thiện trí nhớ và các chức năng nhận thức của phụ nữ mãn kinh, cũng như khả năng bảo vệ não.

Cũng nên đề cập đến một vaccin sử dụng một phân tử gần giống như peptid bêta amyloid làm antigen để chống bệnh Alzheimer. Các thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành ở Mỹ.

Vô hiệu hóa các yếu tố tạo kết tụ Apolipoprotein E4 (Apo E4), một trong các yếu tố tạo sự kết tụ, có khả năng biến đổi dạng của peptid bêta amyloid thành dạng không tan.

Gen quy định protein Apo E4 chỉ thấy ở 1/2 số người mắc bệnh Alzheimer.

Có thể vô hiệu hóa Apo E4 bằng cách tạo một phân tử có khả năng liên kết với peptid bêta, nhưng không thể biến sang dạng không tan, độc hại.

Ngoài ra, còn có thể nghiên cứu một thuốc chủng ngừa anti-Apo E4.

Hạn chế calci xâm nhập tế bào thần kinh

Bệnh, cao huyết áp cũng như bệnh Alzheimer có kèm theo sự gia tăng lượng calci vào neuron. Như vậy, có thể sử dụng các thuốc ức chế calci như nitrendipine hay nimodipine dùng để hạ huyết áp, để phòng chống sự xuất hiện rối loạn tâm thần lão suy.

Vitamin E được sử dụng để chống tác dụng oxid hóa của peroxid và các gốc tự do, kết quả thử nghiệm vào những năm 90 rất khích lệ. Hướng này áp dụng cho những người trên 60.
 
Đăng ký nhận bản tin:
Thống kê truy cập:
Đang online: 16 -
Tổng số truy cập: 214.128
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Tạp chí sức khỏe
Điện thoại văn phòng: 04 6686.9474
Email: tapchisuckhoe@gmail.com
Website: www.tapchisuckhoe.info
 

Bản quyền thuộc tuvansuckhoe.info
Thiết kế website    SEO -  Tất Thành